Lịch Kính Nhớ & Phụng Vụ
LỊCH CÔNG GIÁO 2018
Radio & website liên kết

                                                Sưu tầm và tổng hợp: Pet. Minh Sơn

   Trung tâm hành hương Ba Giồng nằm trong khuôn viên của nhà thờ giáo xứ Ba Giồng – một họ đạo lâu đời nhất của giáo phận Mỹ Tho. Lịch sử họ đạo Ba Giồng gắn liền với các biến cố bách hại đạo Công giáo ở Tây Đàng Trong. Những người dân thuở xưa sống ở nơi này đã từng chứng kiến cảnh tử đạo của rất nhiều tín hữu (1783, 1836, 1861…).

Và trong số 117 vị Thánh tử đạo tại Việt Nam, có 2 linh mục phụ trách họ đạo Ba Giồng là cha Philipphê Phan Văn Minh – phục vụ Ba Giồng từ năm 1849-1853, và cha Phêrô Nguyễn Văn Lựu – phục vụ Ba Giồng từ năm 1852-1861. Cha Phillipphê Minh là vị đầu tiên nằm trong danh sách những linh mục coi sóc họ đạo Ba Giồng.

   Tuy nơi này mới được Đức Giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc ấn định là nơi hành hương của giáo phận Mỹ Tho vào năm 2004, nhưng cộng đoàn tín hữu đã có mặt tại đây từ thuở ban đầu của lịch sử Giáo hội Việt Nam, nên có thể nói rằng, hành hương nơi này cũng được coi là về thăm một trong những cái nôi của Giáo hội Việt Nam. Đến đây, người ta có thể chiêm ngắm những ngôi mộ cổ của các tín hữu ghi năm 1663, 1664…

I)- GIÁO XỨ BA GIỒNG:

1)- Tên gọi Ba Giồng:

   Tài liệu “27 vị tử đạo tại Ba Giồng (Mỹ Tho)” của linh mục Théodule-Joseph Hamon (1882) thuộc Hội Thừa sai Paris, trong Missions Catholiques, năm 1882, quyển 14 – hiện còn lưu trữ tại Hội Thừa sai Paris – có nhắc đến sự hình thành tên gọi Ba Giồng như sau:

Ba Giồng 3

   Về hướng Tây Nam Sàigòn, thuộc tỉnh Mỹ Tho có một cánh đồng lầy rộng lớn. Vào mùa mưa, cánh đồng ấy biến thành một hồ nước mênh mông. Ở lối vào đồng lầy này, nước cuốn dồn cát lại như tạo cho mình một rào chắn không thể vượt qua nổi. Với thời gian, những đụn cát ấy cao dần lên. Một cộng đồng nho nhỏ đã dần dần hình thành ngay trên ba giồng cát này, với một rừng tre xanh có ngọn cao vây quanh như một vòng đai xanh, đó chính là xóm nhỏ Ba Giồng.

   Thuộc làng Tân Lý Đông, gần chợ Cổ Chi, xóm Ba Giồng không có gì khác biệt với các xóm làng khác: cũng những túp lều người dân An Nam, lợp tranh bé lớn tùy theo mức sống của người dân ở đó. Giữa xóm có một ngôi nhà lớn hơn với cây Thánh giá nổi bật. Dân cư không giàu sang mà cũng không túng quẫn, hầu như mọi người đều sống bằng lao động của đôi bàn tay, thế nhưng họ có một kho báu mà họ coi trông hơn tất cả mọi của cải giàu sang, đó là Đức Tin.

 2)- Hình thành Họ đạo Ba Giồng:

   Tài liệu “27 vị tử đạo tại Ba Giồng” kể tiếp: “Không ai biết xóm đạo được thành lập từ bao giờ. Rất có thể, dân cư đã trở lại đạo từ một thời xa xưa. Các cụ già thường chỉ cho con cháu ngôi mộ của ba thế hệ đã sống trước họ, mà tất cả đều là người có đạo Công giáo”.

   Nếu đến thăm Đất Thánh của họ đạo này, ta sẽ thấy có một ‘mộ bia đôi’ ghi niên đại 1663, một mộ bia khác ghi niên đại 1664, và nhiều ngôi mộ cổ ghi chữ Nho mà nay đã lu mờ không thể đọc được. Đặc biệt, có một ngôi mộ xây bằng đá xanh rất đẹp niên hiệu Đinh Hợi 1887, có câu đối chữ Nho khắc sâu: “Sơn Trung Phương Uất Nhật – Thế Phượng Dĩ Thiên Niên”, tạm dịch: “Giữa núi gặp ngàn mây bay – trần thế đã ngàn năm”, ý nói: “ngàn năm như mây bay”, diễn ý: “Đời người dầu đạt tột đỉnh cũng qua mau như mây khói!”.

   Một tài liệu khác được lưu trữ tại Tòa Tổng giám mục Sàigòn – là bản tường trình của linh mục F. Demarcq (cha sở họ đạo Tân An 1911), thừa sai Tông Tòa – đã xác định sự hiện diện từ rất sớm của họ đạo Ba Giồng: “Do tính cách lâu đời của nó, họ đạo này đáng đứng chỗ nhất; tất cả các họ đạo khác tương đối mới có khá gần đây”.

   “Theo những lời truyền tụng khá chắc chắn, vào khoảng năm 1700 hoặc 1702, dưới triều đại Minh Vương, chừng 20 ghe biển rời bờ Phú Yên, lìa xa các bờ biển An Nam, mang theo khoảng 30 gia đình Kitô giáo. Những gia đình này trốn tránh cuộc bắt đạo và trẩy về hướng Nam kỳ, đến trước con sông cái, giữa Gò Công và Chợ Lớn, do hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây nhập lại kết thành. Ghe ngược dòng tới chỗ bắt đầu cánh đồng cỏ lác rộng lớn và dừng lại ở miệng con rạch ngày nay gọi là Rạch Chanh. Rạch Chanh là một con rạch do nước từ đồng lớn tràn xuống kết thành mà trước kia chảy ngang qua những cánh rừng bao la.

   “Đầu tiên tất cả các gia đình lập cư ngay trên con rạch này, và ghe lại trở về Phú Yên rước thêm những gia đình khác. Sáu tháng sau, ghe trở lại đem theo những Kitô hữu khác còn đông hơn nữa. Những người này cũng lập cư cùng một chỗ với những người đến lần đầu.

   “Khu vực này lại ở ngay bên sông, như sự cố sau đây chứng minh: Ngày kia, một vài người đánh cá trong sông thì bị một chiếc thuyền chở ông quan từ Sàigòn đi Châu Đốc bắt gặp. Họ bị bắt và bị đem đi. Tất cả Kitô hữu khác khiếp sợ, vội vã bỏ nơi ấy để đi sâu vào trong rừng, cho tới Ba Giồng bây giờ và lập cư tại đó. Về sau, nhiều Kitô hữu Phú Yên khác chạy trốn các cuộc bắt đạo cũng đến nhập cư với họ. Ngoài ra, Kitô hữu vùng lân cận Sàigòn, Biên Hòa, Mỹ Tho cũng đến nhập cư và làm con số giáo hữu lên đến 3.000 người”. (Như vậy, theo tài liệu này, giáo họ Ba Giồng đã được thành lập cách nay khoảng 316 năm).

3)- Nhà thờ Ba Giồng:

   Họ đạo Ba Giồng như thế đã có một bề dày lịch sử, được cha Théodule-Joseph Hamon thuộc Hội Thừa sai Paris đề cập đến trong “Les Missions Catholiques năm 1882”. Theo cuốn sách này thì trong những thời kỳ đầu tiên, nhà thờ Ba Giồng đã ba lần bị thiêu hủy.

   Sau đó, vào năm 1950, nhà thờ Ba Giồng được xây dựng lại từ một lớp học nối dài, chiều dài chỉ có 24 mét, chiều rộng 6 mét, vật liệu bằng vôi cát thô sơ, đã nhiều lần được sửa chữa cho khỏi sụp đổ. Nhưng thời gian mưa nắng và mối mọt tàn phá, xuống cấp không đảm bảo cho việc cử hành có đông giáo dân tham dự.

   Năm 1997, Đức giám mục giáo phận cho phép tái thiết thánh đường họ đạo Ba Giồng dâng kính Đức Maria, Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo. Và ngày 16-11-1997, Đức Hồng Y GB. Phạm Minh Mẫn (lúc đó là Giám mục phó giáo phận Mỹ Tho) đã dâng Thánh lễ khởi công xây dựng nhà thờ Ba Giồng.

4)- Ba Giồng hiện nay:

   Theo thống kê của họ đạo, vào năm 1976, Ba Giồng chỉ còn khoảng 450 giáo dân. Hiện nay, năm 2018, Ba Giồng có khoảng gần 2.000 giáo dân. Đa số dân ở đây sống bằng nghề làm ruộng, trồng rẫy, đan giỏ nón… Cuộc sống người dân không khá giả, nhưng cũng không đến nỗi túng quẫn. Một trong những nét đẹp của Ba Giồng là sự thân ái của tình làng nghĩa xóm. Bà con giáo dân sống chan  hòa, chân thành với người dân khác tín ngưỡng.

- Giáo dân Ba Giồng đa số tập trung tại xã Tân Lý Đông, nhưng có một số sống rải rác trong các xã Tân Hội Đông, Tân Hòa Thành, Tân Hương, Tân Lý Tây (huyện Châu Thành), Tân Lập 1, Tân Lập 2, Phú Mỹ (huyện Tân Phước).

   Như đã trở thành một truyền thống, Ba Giồng là một trong những vườn ươm cung cấp cho Giáo hội những hoa thơm trái tốt. Khởi đi từ mảnh đất Ba Giồng, đã có không ít linh mục, tu sĩ dấn thân phục vụ Giáo hội và con người một cách nhiệt thành. Quả đúng như cha Hamon đã từng nói: “Xóm nhỏ này không có du khách nào đặt chân tới, mà cũng chẳng có nhà địa lý nào biết đến. Nhưng tên tuổi xóm này lại rất đáng được tôn vinh. Chúng ta hãy kính chào đi, vì đây là một vùng đất đã được máu các Thánh Tử Đạo thánh hiến!”

   Ngày 16-3-2000, nhà thờ họ đạo Ba Giồng với tước hiệu: “Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo Việt Nam” được Đức cha Phaolô Bùi Văn Đọc, giám mục giáo phận Mỹ Tho cung hiến.

   Để ghi nhớ và tôn kính các vị thánh tử đạo, Đức cha Phaolô Bùi Văn Đọc đã chọn Ba Giồng làm Trung tâm Hành hương vào ngày 24.11.2004, và ngày 27.11.2009, đặt Thánh Phêrô Lựu làm bổn mạng giáo phận. Vì thế, ngài đã cho xây dựng trung tâm hành hương tại giáo xứ Ba Giồng. Ngày 19.11.2011, ngài đã chủ sự Thánh lễ đặt viên đá đầu tiên tại đây. Ngày 19.11.2013, công trình xây dựng được bắt đầu. Sau 4 năm xây dựng, với sự đóng góp của rất nhiều quý ân nhân xa gần, trong và ngoài nước, nay Trung tâm Hành hương cha Thánh Phêrô Lựu đã hoàn thành với công trình kiến trúc kết hợp vừa cổ điển vừa hiện đại.

- Cha sở đương nhiệm: Gioan Baotixita Nguyễn Tấn Sang, sinh năm: 1973, thụ phong linh mục: 2005 – Nhận nhiệm vụ từ: 05/2011 đến nay.

II)- CHỨNG NHÂN ĐỨC TIN:

   Năm 1783 khi bị Tây Sơn đánh đuổi, Nguyễn Ánh (Gia Long) có chạy ghé qua Ba Giồng, được dân ở đây cho ăn uống. Chính vì vậy, quân Tây Sơn đã nghi ngờ và giết khoảng 150 người ở họ đạo Ba Giồng.

   Năm 1836, trong cuộc bách hại thời vua Minh Mạng (trị vì 1791-1841), quan quân đã cho giết khoảng 1700 tín hữu Công giáo ở Ba Giồng.

   Vào thời vua Tự Đức (trị vì 1847-1883), vị linh mục từng phục vụ giáo xứ Ba Giồng là cha Philipphê Phan Văn Minh đã bị bắt vào ngày 26-2-1853 tại Mạc Bắc (Vĩnh Long) và bị xử tử vào ngày 7-3-1853 tại pháp trường Đình Khao (Vĩnh Long). Còn linh mục Phêrô Nguyễn Văn Lựu thì bị bắt vào năm 1860 khi đang là cha sở ở vùng Ba Giồng, và bị chém đầu vào ngày 7-4-1861 tại Mỹ Tho.

   Vài ngày sau khi cha Lựu tử đạo, quân Pháp tràn vào Mỹ Tho. Trước khi quan quân Việt Nam rút đi, họ đã quyết định tiêu diệt họ đạo Ba Giồng. Được tin này, giáo dân Ba Giồng tìm cách chạy trốn trong đêm, nhưng hầu hết đã bị bắt lại. Có 25 người đàn ông của họ đạo Ba Giồng, sau khi tuyên xưng Đức Tin cách mạnh mẽ, đã bị trảm quyết tại căn nhà vuông, trên mảnh đất chợ Cổ Chi, giáp với xã Tân Lý Đông, cách nhà thờ Ba Giồng khoảng hai cây số. Xác các vị Tử Đạo, các quan bắt người lương đem chôn trong cánh đồng bên cạnh chợ; một số được chôn tại một gò đất, nơi đây đồng bào địa phương gọi là “Gò Chết Chém” (Trong một thời gian dài – từ năm 1862 đến 1986 – người ta truyền tụng rằng: trên gò này, cỏ không mọc được, và những tàn cây phủ bóng trên gò cũng bị chết khô. Những lương dân làm ruộng xung quanh có vào đó ngồi nghỉ chân, nhưng không bao giờ dám phóng uế).

   Sau khi chém 25 tín hữu và giết 2 người khác khi họ đang chạy trốn (1862), quan án ra lệnh các giáo hữu phải bỏ họ đạo Ba Giồng để đi nơi khác, không ai được ở lại, còn nhà thờ thì bị phá. Cho đến 10 năm sau, cha Hamon vâng lệnh Đức cha Micae về coi sóc họ đạo và lo việc cải táng hài cốt các vị tử đạo về nơi an nghỉ tại Đất Thánh ngày 18-6-1872.

   Hai người chạy trốn: Người thứ nhất là một cụ già bị bắt cách xóm đạo không xa. Ngay lập tức, cụ già bị chặt đầu, xác làm mồi cho lũ chó. Con trai cụ chỉ lượm được một ít xương và một phần sọ. Còn người thứ hai đi được khá xa, cứ tưởng đã thoát nạn, nhưng bị vài người lính đuổi kịp, bắt được, điệu về Kiến An phủ và bị giết gần quốc lộ.

1)- Cuộc trốn chạy lánh nạn và tử đạo của 25 vị nhân chứng đức tin: (theo tài liệu của cha Théodule-Joseph Hamon “Les Missions Catholiques năm 1882” quyển 14 tại nguồn HAMON (1845-1911) — Français – Archives des Missions Étrangères …)

   Khi được tin có hiểm nguy đe dọa, các giáo hữu rất sợ hãi. Chung quanh Ba Giồng, trên những vùng đất chắc, chỉ toàn là các làng lương dân; họ không mong tìm được nơi ẩn náu trong các làng đó. Vả lại binh lính đã vây chặt hết mọi lối ra vào, không thể thông thương với bên ngoài được nữa. Cánh đồng thì quả thực là trống trải, các quan cũng không nghĩ đến việc canh gác ven bờ. Nhưng cánh đồng lại bị ngập nước, theo lối đó cũng khó thoát. Vì sâu ít nhất cũng sáu bảy tấc nước, bờ cách xa năm, sáu dặm, mà đa số họ là nông dân nên làm gì có được thuyền. Thế nhưng ngả ấy lại là hy vọng duy nhất.

   Tất cả mọi người lội xuống nước, giúp đỡ nhau qua khúc sông chảy dưới chân làng không khó khăn mấy, và tiến vào cánh đồng mênh mông, nơi quyết định vận mạng sống chết của họ.

   Không cần tả quang cảnh cảm động của cuộc chạy trốn của cả dân làng giữa cảnh tối tăm đêm đen, giữa bầu khí im lìm vì kinh hãi. Nhưng chúng ta dễ dàng hình dung được muôn ngàn thảm kịch: đám đông gồm đàn ông, đàn bà, trẻ em và cụ già bước đi một cách khó khăn và vô trật tự, nước ngập tới thắt lưng, lún sâu xuống sình và đôi khi phải chống trả với dòng nước chảy. Con dìu cha già, chồng giúp vợ, mẹ vác con trên vai.

   Ai chẳng xúc động trước cảnh tượng ấy! Những con người tội nghiệp! Chỉ cần họ bỏ đạo, quay trở lại trình diện những kẻ bắt bớ, là họ có thể được ban ân huệ, yên ổn sống trong nhà mình! Nhưng họ đã quý trọng đức tin hơn sự sống, và lòng cậy trông vào Chúa, đã hướng dẫn bước họ đi trên con đường cam go của đầy ải, chết chóc. Họ đã đi xa bờ và dưới áng sáng nhấp nháy của các vì sao, họ khó mà phân biệt được vành đai ngọn tre bao quanh và che chở những căn nhà bỏ trống của họ. Bóng tối quả làm bước đi của họ khó khăn, nguy hiểm thật, nhưng ít nhất cũng giúp họ thoát khỏi con mắt của những người bắt bớ họ. Thế nhưng, khốn thay, ở chân trời mặt trăng đã mọc lên quá sớm, và chiếu sáng cánh đồng lác. Lính canh chung quanh xóm đạo nhanh chóng nhận ra những ngôi nhà Ba Giồng trống trơn, và trên cánh đồng ngập nước ngoài kia, lính nhận thấy đám đông đã đánh lừa được sự canh chừng của họ và đang cố gắng chạy trốn khỏi số phận khốn khổ của mình.

   Khi nghe có tiếng kêu: “Bọn có đạo trốn hết rồi” tiếng trống liền gióng lên báo động hết mọi người. Một nhóm nhiều người võ trang nhập vào đám binh lính nhảy ra đuổi theo những người chạy trốn; một số khác leo lên khoảng 30 chiếc thuyền chặn đường thoát thân của những người có đạo! Thấy hiểm nguy đe dọa, giáo hữu la hét kinh sợ, họ ngửa mặt lên trời mà kêu: “Ớ Chúa tôi!”. Họ hối hả, rảo bước, nhưng bị cản trở bởi muôn ngàn chướng ngại, những người chạy trốn không thể đua nhanh với những người đuổi bắt họ được. Chỉ còn chút xíu là những người kia đuổi kịp họ. Khi ấy, nỗi thất vọng tiếp theo nỗi đớn đau; một cảnh lộn xộn tột cùng. Mạnh ai nấy chạy, người ta bỏ rơi những người tàn tật… những người mạnh khỏe nhất giờ đây không còn gì cản bước họ nữa, thì đã thoát khỏi tay những người đuổi bắt, đến được khoảng đất gần đó. Những cụ già, phụ nữ, trẻ em, và hai mươi lăm (25) người đàn ông là những người không muốn bỏ rơi những người kia, đều rơi vào tay binh lính. Bị dẫn về chợ Cổ Chi, họ bị dồn ép thành một đống giữa ba hàng lính vỏ trang, gươm, giáo.

   Khi giây phút sợ hãi đầu tiên đã qua, đức tin đã thức tỉnh tâm hồn mọi người tín hữu. Viễn ảnh về sự chết không thể tránh khỏi, nên không còn gây sợ hãi cho những giáo hữu đạo đức nữa. Họ chỉ còn nghĩ tới việc chuẩn bị chết mà thôi. Lời cầu nguyện của linh hồn sắp ra trước mặt Chúa đã thay thế cho những tiếng rên rỉ. Mọi người khuyến khích nhau chịu đau khổ vì Đức Giêsu Kitô, chiến đấu ngoan trường và giành chiến thắng, thời nào cũng thế, các chiến sĩ của Đức Kitô chuẩn bị chết vì đạo đều giống nhau như thế.

   Phiên tòa xảy ra trên mảnh đất chợ Cổ Chi. Đây là một khoảnh đất hình chữ nhật dài 300m, rộng 50-60m, hai bên là hai dãy nhà tranh thẳng tắp. Ở một phía người ta thấy có một tòa nhà rộng rãi hơn: đó là rạp hát địa phương. Ở phía đàng kia là một căn nhà vuông, trông như một căn nhà ba bề bỏ trống, mái nhà dựa trên các hàng cột. Giữa nhà, đặt sẵn một cái bục phủ chiếu giữa 4 hàng cột nhỏ hơn: chỉ có một bức họa sơ sài, với vài hàng chữ là vật trang hoàng duy nhất. Đây là nơi lợi ích của xã được quyết định, nơi bô lão tranh luận và cũng là nơi các quan trên ghé qua triệu tập thuộc hạ và xử kiện.

Ba Giồng Tử đạo 2

   Vị võ quan và hai phụ thẩm ngồi trên bục. Mỗi bên có 4 người lính đứng hầu, gươm tuốt trần. Dưới bục và bên ngoài công trường 10 lý hình có mặt, mã tấu trên tay, sẵn sàng thi hành án lệnh. Dưới đất, giữa đống dây trói, roi mây và các dụng cụ gia hình khác, có một tượng Thánh giá và một ảnh Đức Mẹ. Đàn bà, con trẻ được xếp thành hàng vòng tròn trên đám đất trống; ở giữa và trước tòa là đám 25 người đàn ông. Đa số là các ông già, nhưng cũng có một chàng trai trẻ 16 tuổi. Vây chung quanh là ba hàng lính, gươm cằm tay. Sau lưng đám lính là một đám đông những người lương dân từ khắp nơi kéo đến xem.

   Thủ tục đơn giản, vì các bị cáo là người có đạo, tội họ đã rành rành ra đó; và hoàn cảnh gia trọng là họ đã tìm cách chạy trốn để thoát chết; vậy thì, tất cả những người ấy phải chết. Thế nhưng quan lớn còn muốn tỏ lòng thương họ, tha cho họ được sống, nhưng muốn được thế thì họ phải chối bỏ đức tin, và giày đạp Thánh giá nằm dưới đất. Khi nói như vậy, ông quan lấy tay chỉ cây thập giá nằm dưới đất cho 25 vị tuyên xưng đức tin. Các giáo hữu, mắt ngước lên trời, cầu xin Thiên Chúa ban cho họ được phúc tử đạo. Sau hết các chiến sĩ của Chúa đồng thanh kêu lên: “Không bao giờ chúng tôi đạp Thánh giá; dấu cứu rỗi, thà chúng tôi chịu chết còn hơn”. Thế là án trảm được thực hiện, 25 cái đầu lăn lóc dưới chân bục quan tòa.

   Sau đợt hành quyết thứ nhất, viên quan nói với những phụ nữ có đạo mà ông cho rằng sẽ lay chuyển được lòng họ. Ông chỉ cho họ những xác còn nóng hổi, còn rỉ máu và nói: “Chúng bay sẽ đạp lên cây Thánh giá hoặc là chúng bay sẽ chịu chung số phận như thế”. Sáu trăm tiếng nói đáp lại: “Tất cả chúng tôi sẽ chết như họ và sẽ gặp lại họ ở trên trời”. Viên quan giận điên lên; một lần nữa ông sắp tuyên án tử hình. Đám đông chứng kiến cảnh tượng ấy đều xúc động khôn xiết. Từ bốn phía, người ta kêu gào: “Xin tha cho họ, xin tha cho họ”. Nhiều chỗ dân chúng phá vỡ các vòng lính bao vây tù nhân. Một hồi trống, chấm dứt cảnh lộn xộn và lập lại trật tự. Viên quan hét lớn: “Lũ chó kia, một là bỏ đạo, hai là chết”. Các giáo hữu trả lời: “Chết”. Những đứa trẻ cũng hò hét theo mẹ chúng: “Chết”. Tức thì họ quỳ xuống cạnh xác bà con họ và giơ cổ ra trước lưỡi gươm của đao phủ. Các giáo hữu cũng lặp lại: “Cả chúng tôi nữa, tất cả đồng thanh kêu lên: Vinh dự cho các phụ nữ công giáo! Khốn cho ai làm hại họ”. Phần vì sợ trước tiếng kêu đó, phần vì chính mình cũng xúc động, nên viên quan sau ba hồi trống ra lệnh im lặng cho dân, đã lên tiếng: “Ta không muốn vấy tay vào máu đàn bà. trẻ con. Ta chỉ đòi chúng giả vờ bỏ đạo, nhưng vì chúng nhất mực không chịu mà vẫn bám víu vào giáo lý đạo Chúa, thì ta cho bọn chúng ra đi bằng yên. Kẻ nào ngược đãi chúng sẽ bị nghiêm trị. Ý của quan lớn là thế mọi người phải tuân thủ”.

   Một số đông từng là nhân chứng các sự việc kể trên, nhiều người đã từng chôn xác các vị tử đạo và chỗ nằm của từng vị trong các mồ chôn, nơi họ đã đặt xác các vị sát cạnh nhau. Mặc dù không có gì phân biệt được nơi đã chôn các thi hài với con đường hoặc đám đất bên cạnh, các chỉ dẫn vẫn chính xác đến độ chúng tôi có thể tìm ra các thi hài ở đúng độ sâu và đúng theo như cách thức họ nói trước. Chỗ này tìm thấy 7 vị, chỗ kia 5 vị, 7 vị nữa ngay lề đường, còn vị bị giết ở Kiến An và sọ của cụ già bị giết ở Ba Giồng thì được tìm thấy ở chính nơi các vị ấy bị giết: tất cả là 21 vị đã được tìm thấy. Còn của 6 vị nữa thì sao? Chúng tôi đã tìm tòi, đào xới khắp nơi vẫn không tìm ra. Cuối cùng, có một lương dân tốt giải thích cho chúng tôi như vầy: những người đứng đầu trong các làng đã giao việc chôn cất 6 vị còn thiếu cho một tay lười biếng. Tên này muốn chóng xong việc, nên đã chỉ vùi sơ một lớp cát mỏng. Đêm đến đàn chó trong làng đã bới lên ăn thịt. Người ta đã nghe chúng giành nhau món mồi thịt người ấy và ngày hôm sau, mảnh đất chợ vương vãi những mẫu thịt ăn giở và những khúc xương bị gặm. Những con heo hoàn tất công việc kinh tởm ấy! Hình như mãi về sau, người ta còn thấy những mẫu xương vụn rơi vãi đó đây và cuối cùng chúng hoàn toàn biến mất.

   Ngày 18-6-1872, toàn họ đạo Ba Giồng đã sẵn sàng. Nhà thờ được trang trí như ngày đại lễ. Hài cốt các vị tuyên xưng đức tin được cung nghinh trọng thể về đây. Sau Thánh lễ cầu hồn, đoàn rước theo thứ tự tiến về Đất Thánh (nghĩa trang). Ngày nay, các vị tử đạo Ba Giồng an nghỉ giữa ngôi làng mà họ đã làm rạng rỡ qua cái chết vinh quang của mình.

2)- Vị tử đạo ba Binh tại làng Mỹ Quí Đông họ đạo Nhị Quí: (Kỷ yếu 50 năm Giáo phận Mỹ Tho)

   Nguyên trước đây nhà thờ tại làng Mỹ Quí Tây bị hư sập nên được dời về làng Mỹ Quí Đông; hai làng này nhập lại thành Nhị Quí (huyện Cai Lậy). Vào năm 1861, quân Pháp chiếm đồn Tân Thành gần làng Hữu Đạo, bổn đạo bồng bế nhau chạy xuống làng Trấn Định, Ba Giồng, tổng Hưng Nhơn. Làng này thuộc quyền cai trị của người Pháp.

   Vì vậy quân lính triều đình chỉ bắt được một người có đạo tên là BINH, rể bà biện Đạo. Họ dẫn ông lên nhà ông hai Trạch và khuyến dụ ông bỏ đạo, nhưng ông nhất mực không chịu. Quan liền giao ông Binh cho ông cai Di hành hình. Ông này quá sợ nên uống rượu cho vững tinh thần rồi dẫn ông Binh ra ngã ba giáp làng Phú Quí. Lúc đó khoảng 9 giờ tối, đèn đuốc nhá nhem nên ông chém đến 3 lần mà chỉ lát gò má, phải cắt mới đứt đầu. Đầu ông được bêu ba ngày và sau đó được chôn chung với xác ông dưới gốc cây sơn rừng.

3)- 3 vị tử đạo tại làng Hữu Đạo, huyện Cai Lậy: (Trích trong Sưu Tập Những Họ Đạo Cổ Xưa Tây Đàng Trong của Lê-ô Nguyễn Văn Quý, 1991)

   Vào năm 1861, quân Pháp đánh chiếm tỉnh Mỹ Tho, quan quân Việt Nam thất thủ tháo chạy. Khi chạy đến nhà thờ nào, họ đổ tội cho người Công giáo đem quân Tây sang chiếm nước. Họ bắt người có đạo ở các họ đạo: Mỹ Tho, Chợ Bưng, Xoài Mút, Dưỡng Điềm, Mỹ Quí Đông, Bưng Môn … tất cả 17 người và giao cho làng Hữu Đạo.

   Quan quân tại đây đứng thành hai hàng, ở giữa trải một tấm chiếu, trên để cây Thánh giá. Quân lính cầm roi đánh từng người, bắt ép họ bước qua Thánh giá để được tha. Nhưng tất cả 17 người kể cả em bé 10 tuổi đều kiên quyết không bước qua Thánh giá. Quan tức giận sai quân lính khiêng 2 đầu gông kéo lê họ bước qua Thánh giá. Họ khóc lóc sợ hãi phân bua: “Lạy Chúa, xin Chúa chứng nhận lòng con. Chúng con không hề dám bước qua hình Chúa, những người nầy khiêng con…”. Ai nấy nhất mực xin lỗi Chúa.

   Quan thấy hết phương cưỡng ép nên tức giận truyền lệnh chém đầu 17 vị, và giao cho đội ban Trưởng thi hành. Viên đội trưởng nầy có lòng thương các đấng, lòng bất an. Trong lúc xách gươm về nhà, tình cờ bắt được tên trộm, ông tức giận định chém đầu ngay nhưng nó quỳ lạy xin tha mạng. Ông liền bắt nó chém các ngài thay ông. Tên trộm ra đình bắt chém hai vị, còn vị thứ ba nó run quá chém không chết ngay. Tên trộm nầy có tên là Đỏ.

   Lúc đó quân Pháp tiến đánh đồn Thuộc Nhiêu, quân Việt tháo chạy, bỏ lại các tù nhân. Ngày hôm sau chúng tiến đánh đến làng Hữu Đạo và giải thoát 14 vị chưa kịp hành hình. Còn xác 3 vị kia bị khiêng đi không chôn ở đó. Nơi hành hình gọi là gò Dưới thuộc phần đất của một tín hữu tên là Cậy.

III)-  CÁC THÁNH TỬ ĐẠO GP MỸ THO:

1. Cha Philliphê Phan Văn Minh: (nguồn http://tinmung.net/CACTHANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/Minh_PhilipphePhanVan.htm )người Cái Mơn, Vĩnh Long. Linh mục tiên khởi họ đạo Ba Giồng 1849-1853. Bị chém ngày 3.7.1853 tại Đình Khao, Vĩnh Long, dưới đời vua Tự Ðức.

   Cha Philipphê Phan Văn Minh, sinh năm 1815 tại Cái Mơn, huyện Mỏ Cày, tỉnh Vĩnh Long (nay là huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre). Con ông Đaminh Phan Văn Đức và bà Anna Tiếu, là người con út trong gia đình có 14 anh chị em. Năm 1828, cậu được Đức cha Tabert Từ (tại họ Ba Giồng) nhận cho đi học chủng viện Lái Thiêu.

3.7 St Philipphê Phan Văn Minh (1815-1853) Linh mục tử đạo   Sang chủng viện Pénang, Mã Lai, thầy (và thầy Hoan) có vinh dự được Đức cha gọi qua Calcutta (Ấn Độ) để hợp tác với ngài soạn bộ từ điển La Tinh – Việt Nam cho đến năm 1838. Khi về nước, hoạt động mục vụ bên cạnh Đức cha Cuenot – Thể, tại Tòa giám mục ở Gò Thị, tỉnh Bình Định) và được Đức cha Cuênot Thể truyền chức linh mục năm 1846 tại Gia Hữu (linh mục đầu tiên coi sóc họ Ba Giồng từ 1849-1853). Cha Minh đi thăm viếng, dạy kinh cho các tín hữu ở vùng Tiền Giang, Hậu Giang. Những làng như Đầu Nước, Xoài Mút, Chợ Búng, Ba Giồng, Cái Nhum, Cái Mơn, Bãi San… đều còn ghi dấu chân truyền giáo của cha (từ họ đạo Mặc Bắc đến tận Nam Vang).

   Tháng 12 năm 1852, vâng lời cha Borelle đang cai quản vùng Cái Nhum, cha Phan Văn Minh tới Mặc Bắc thay thế cha Nguyễn Văn Lựu, chánh xứ Mặc Bắc. Bếp Nhẫn vì thù cha Nguyễn Văn Lựu, đồng thời tham món tiền thưởng vua hứa, nên đã tới bàn tính với xã Hiệp và lý Vắp rồi dẫn quân lính từ tỉnh Vĩnh Long về bao vây làng Mặc Bắc để bắt cha Nguyễn Văn Lựu. Cha Lựu đã trốn sang Ba Giồng và cha Phan Văn Minh đã âm thầm tới thay cha Lựu và trú ngụ tại nhà ông trùm họ Mặc Bắc là ông Nguyễn Văn Lựu.

   Ngày 26.02.1853, quan sai lính đến vây nhà ông trùm Lựu nhưng cha Lựu đã đi nơi khác, còn cha Minh và vài chủng sinh đang ở trọ đó. Cha Minh sợ quan quân, vì mình mà hại gia đình ông trùm, nên ra mặt nhận mình là linh mục. Thế là cùng với bảy vị chức dịch trong vùng, cha bị bắt trói, đeo gông và đẩy xuống thuyền đưa về giam tại Vĩnh Long.

   Các quan cho lính đưa cha về giam tại Tuyên Phong chờ ngày lãnh án. Nghe án xử từ kinh đô đã gửi về, cha Minh quỳ gối tạ ơn Chúa, rồi an ủi các anh em bạn tù nên vui lòng tuân theo ý Chúa, hẹn tái ngộ trên nước trời. Cha nói: “Xin anh em vững dạ cậy trông Chúa, Ngài chẳng từ bỏ ai và Ngài sẽ thưởng công bội hậu cho những ai tận tâm tôn thờ Ngài“. Cha cũng căn dặn một tín hữu ở ngoài: “tiền bạc của cha nếu còn lại, đừng phí tổn ma chay lớn làm chi, cứ đem phân phát hết cho người nghèo”.

   Cuối cùng ngày mong đợi của cha đã đến. Cha vui vẻ lần chuỗi tiến ra pháp trường Đình Khao, Vĩnh Long, qua bờ sông Long Hồ đến Cái Sơn Bé, quân lính dọn bữa ăn sau cùng, nhưng cha Minh không thiết gì nữa. Cha chăm chú cầu nguyện, sau hồi chiêng trống rền vang. Lưỡi gươm lý hình đã đưa linh hồn vị anh hùng tiến thẳng về thiên quốc. Lời nguyện cầu thánh thiện sau hết của cha Minh còn âm vang trong lòng những người hiện diện: “Lạy Chúa xin thương xót con, lạy Đức Giêsu, xin cho con sức mạnh và can đảm chịu khổ để vinh danh ngài. Lạy Mẹ Maria xin nâng đỡ con“.

   Hôm đó là ngày 03.07.1853, giáo hữu tới xin xác và rước về Cái Nhum. Các linh mục Gioan Thiềng, Phaolô Lượng và Laurensô Lân cử hành lễ an táng cho ngài. Thi thể vị tử đạo được an táng dưới nền một nhà thờ vừa bị đốt phá ở Cái Mơn. Năm 1960, di cốt ngài được đưa về Vương Cung Thánh Đường Sàigòn trong dịp lễ cung hiến.

   Đức cha Lêo XIII suy tôn cha Philiphê Phan Văn Minh lên bậc Chân phước ngày 27.05.1900. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh. Chủng viện giáo phận Vĩnh Long đã nhận Thánh Philiphê Minh làm bổn mạng.

 2. Anrê Nguyễn Kim Thông (năm Thuông) (nguồn http://tinmung.net/CACTHANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/Thong_AnreNguyenKim.htm) thầy giảng, người Bình Định, bị đày và chết trên đường khi đến Mỹ Tho ngày 15.7.1855.

   Thánh Anrê Nguyễn Kim Thông (Năm Thuông), lý trưởng, thầy giảng; sinh 1790 vào cuối thời Tây Sơn, tại Gò Thị, thôn Xuân Phương, xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Ðịnh. Người con trai thứ 8 là linh mục Giuse Nguyễn Kim Thủ (quản xứ tại Phan Rang) về sau cũng chịu xử chém vì đạo. Con gái út là Anna Nguyễn Thị Nhường, đi tu dòng Mến Thánh Giá Gò Thị. Ông được Ðức Giám mục Stêphanô Théodore Cuénot Thể cử làm trùm họ hạt Bình Định. Ông trùm Thông rất được dân làng trọng vọng, tôn ông là ông Cả trong làng, nên gọi là trùm Cả.

15.7 St Anrê Nguyễn Kim Thông   Về mặt xã hội, Nguyễn Kim Thông có công khai phá rừng hoang, trưng khẩn ruộng đất (khai phá đất hoang rừng sát ven đầm Thị Nại – Quy Nhơn), nên được triều đình ban thưởng thẻ vàng với tước hiệu “Cần Nông”.

   Ðối với Giáo hội, Anrê Nguyễn Kim Thông tận tâm giúp Ðức cha Cuénot Thể tạo mãi ruộng đất, xây dựng Tòa Giám mục, mở chủng viện, tu viện, nhà dục anh và cơ sở nhà chung, đồng thời đảm nhiệm trọng trách cố vấn quản lý tài sản nhà chung để tạo phương tiện điều hành giáo phận. Ngoài ra, trùm Cả Năm Thuông còn lo bảo vệ Ðức cha, các cha cùng các thầy trong cơn bách bại đạo Chúa.

   Trong trách nhiệm xét xử việc làng, ông trùm xét đoán theo lẽ công bình, rồi sau đó lấy của nhà giúp đỡ cho người nghèo thua kiện. Ông năng khuyến khích người xung quanh làm lành lánh dữ và răn bảo kẻ có tội sớm ăn năn cải tà quy chánh. Nhưng ông cũng tỏ ra không kém thẳng thắn khiển trách người ngoan cố, như đã có lần nhắc nhở đứa cháu hung hăng hoang đàng tên bảy Út, khiến tên này tự ái sinh lòng hiềm thù đặt điều tố cáo với các quan về ông trùm Cả. Thế là Anrê Nguyễn Kim Thông bị bắt giải về tỉnh vào năm 1853, năm Tự Ðức thứ 6.

   Bị điệu ra trước tòa quan tỉnh tra vấn về các điều tố cáo. Ông trùm khiêm tốn, bình tĩnh ung dung trả lời bằng lời lẽ đanh thép: “Trong nhà tôi không có đạo trưởng. Còn việc tậu thuyền, mãi mã, sắm ghe, tích trữ lương thực, tôi chẳng hề có, xin quan cho đi khám xét. Tôi chỉ chuyên cần lo việc nông gia. Tôi không biết Tây dương, không đem đường chỉ nẻo cho họ. Tôi cũng chẳng hề đi đâu mà mở đường sơn thủy, vận lương, chuyển binh cho giặc”. Không tìm ra chứng cớ về các điều cáo giác trên, bọn quan lại bèn truyền cho ông trùm “quá khóa”, tức là bước qua Thánh giá, thì sẽ đươc tha về. Ông nhất quyết không tuân.

   Quan bảo: “Kín đáo đạp lên thập giá đi, rồi về xưng tội”.

   Ông trùm đáp: “Thạch tín là thuốc độc, uống vô là chết, nhưng cũng có thuốc giải. Thế nhưng có ai liều mình uống thạch tín bao giờ? Việc xúc phạm Thánh giá cũng vậy”.

   Thế là sau ba tháng bị giam giữ, Anrê Nguyễn Kim Thông nhận bản án chung thẩm từ triều đình Huế gửi vào: Lưu đày biệt xứ vào Ðịnh Tường (Mỹ tho). Trên đường đi đày, tới Gia Ðịnh, ông trùm ngã bệnh. Có người muốn ra tay cứu ông. Ông trùm ngỏ lời cảm ơn lòng tốt của họ và xin hãy để ông được vâng theo thánh ý Chúa. Khi đến Bình Thuận, ông gặp cha Nguyễn Kim Thủ, con trai ông, và xin lãnh nhận Bí tích Giải tội.

   Tới Ðịnh Tường, bệnh tình của ông Năm Thuông trở nên trầm trọng. Ngày 15-7-1855, sau khi kêu tên cực thánh ba Ðấng “Giêsu, Maria, Giuse”, Anrê Nguyễn Kim Thông yên giấc nghìn thu trong Chúa, chân vẫn còn mang nặng xiềng xích. Ông thọ 65 tuổi. Thi hài ông được đưa về Cái Nhum (Vĩnh Long) và sau đó dời về an táng ở nhà thờ Gò Thị, Qui Nhơn (năm 1856). Năm 1857, cha Nguyễn Kim Thủ xin cải táng ông về nhà thờ Gò Thị. Hiện nay, hài cốt của Thánh nhân được đặt tại Tòa Giám mục Qui Nhơn.

   Anrê Nguyễn Kim Thông được Ðức Giáo Hoàng Piô X phong Chân phước năm 1909 và Ðức Thánh cha Gioan Phaolô II tôn phong lên bậc Hiển thánh.

 3. Cha Phêrô Nguyễn Văn Lựu: (nguồn http://tinmung.net/CACTHANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/Luu_PheroNguyenVan.htm ) người Gò Vấp, Gia Định. Linh mục họ đạo Ba Giồng 1852-1861. Bị chém ngày 7.4.1861 tại Mỹ Tho.

7.4 St Phêrô Nguyễn Văn Lựu   Phêrô Nguyễn Văn Lựu sinh năm 1812 tại Gò Vấp, Gia Ðịnh. Lớn lên vào chủng viện năm 1838 và được gởi đi học ở Pénang, rồi được thụ phong linh mục. Cha được bổ nhiệm phụ trách nhiều giáo xứ như Mặc Bắc, Sa Đéc, Mỹ Tho… Cha Lựu chỉ mắc một tật nhỏ là thích uống rượu, nhưng đã bỏ được, khi nghe lời trình bày của cha Thuyết là bạn cùng học.

   Tháng 12.1860, một hôm trong lúc đang gặp các tín hữu trong tù, vô tình cha để một lá thư chìa ra miệng túi áo. Viên quan thanh tra trại giam (ông cai Cư Hội) đi qua trông thấy liền ra lệnh bắt giam. Biết không thể giấu được nữa, cha liền nhận mình là linh mục. Thế là cha được chia sẽ đòn đánh, tra khảo, dọa nạt chung với các tín hữu của mình. Từ nay cha không chỉ an ủi, động viên anh em bằng lời nói suông nữa, mà bằng chính mẫu gương cuộc đời của mình: Bất chấp mọi đau đớn sỉ nhục, nhất quyết giữ vững niềm tin, chứ không bỏ đạo. Các quan bắt cha xuất giáo, cha trả lời : “Đạo đã thấm nhập vào trong xương tủy, tôi làm sao bỏ được. Vả lại một người giáo hữu thường, một thày giảng còn không có quyền bỏ đạo, huống nữa tôi đây là đạo trưởng“.

   Ngày 07.04.1861, quân lính dẫn vị chứng nhân đức tin ra khỏi cửa thành độ một cây số, rồi chém cha ngay bên vệ đường từ Mỹ Tho đi Sàigòn. Viên đao phủ vì mê tín, sợ người đã chết nhập vào mình, nên vừa chém xong liền quăng dao chạy trốn.

   Giáo dân các họ Xoài Mút, Ba Giồng và Thủ Ngũ cũng vừa tới nơi kịp để lo việc tống táng. Thi hài vị tử đạo được các tín hữu thu lại đem về an táng chung với gông cùm và một chiếc bình đất vấy máu ngài. Về sau hài cốt của cha được dời đến đặt tại bàn thờ chính Thánh đường Mỹ Tho. Năm 1960, hài cốt ngài lại được cải táng về nhà thờ chính tòa Sàigòn.

   Ngày 02.05.1909, Đức Piô X đã suy tôn cha Phêrô Nguyễn Văn Lựu lên bậc Chân phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.

                                                                                    Tháng 09/2018

Số lượt truy câp bài viết: (7)